Blog

Cá sấu thường sống ở đâu?

21 Tháng 02 2019

Cá sấu là loài bò sát lớn đã có mặt trên trái đất cùng thời với khủng long, khoảng 240 triệu năm trước. Sở hữu thân mình giống với những loài bò sát từng sống ở thời tiền sử, cá sấu mang trong mình sức mạnh tiềm ẩn từ thời cổ đại, giúp nó trở thành vua trên những đầm lầy, sông nước khắp các cùng nhiệt đới.

Cá sấu tên tiếng anh crocodile, dòng cá này thuộc họ cá Crocodydae và phân bộ cá sấu (Crocodilia). Những chú cá sấu đầu tiên được nhà sinh vật học Laurenti miêu tả và đặt tên vào năm 1768.

Cá sấu thường sống trong những vùng đầm lầy và tập trung thành từng bầy đàn. Chúng có thể dễ dàng thích nghi với mọi loại thời tiết. Cá thường có xu hướng ngâm mình dưới nước và chỉ lên trên cạn để phơi nắng. Khi ở trên cạn, chúng thường di chuyển rất chậm hoặc nằm yên bất động.

Cá sấu thường sống ở đâu?

Cá sấu thường sống ở đâu?

Môi trường sống của dòng cá này khá phong phú, môi trường thích hợp nhất của chúng là khu vực châu Phi, châu Á, châu Mỹ và khu vực châu Đại Dương. Tại nước ta, cá sấu xuất hiện khá nhiều ở các vùng đầm lầy thuộc khu vực biển miền Trung. Không chỉ có vậy, nhiều người còn nuôi  cá sấu trong các đầm với mục đích làm thương phẩm và thủ công mỹ nghệ.

1. Cá sấu sông Nin

Cá sấu sông Nin, tên khoa học Crocodylus niloticus là một loài cá sấu trong họ Crocodylidae. Loài này được Laurenti mô tả khoa học đầu tiên năm 1768. Chúng là loài cá sấu châu Phi lớn nhất và là động vật ăn thịt thượng hạng trong khu vực sinh sống của chúng, là khu vực bao gồm phần lớn miền nam sa mạc Sahara cũng như đảo Madagascar. Được biết đến như là động vật ăn thịt người, chúng vừa bị ghét vừa được sùng kính, đặc biệt là ở Ai Cập cổ đại khi mà các con cá sấu đã được ướp xác và tôn thờ như là thánh thần. Trong khi chúng chưa bị đe dọa tuyệt chủng thì quần thể tại nhiều quốc gia vẫn đang bị nguy hiểm do số lượng sụt giảm.

Loài cá sấu sông Nin thường được tìm thấy ở những điểm, vùng miền của châu Phi về phần phía nam của sa mạc Sahara, hay ở Madagascar và thậm chí là dọc theo lưu vực của con sông Nin. Quay ngược theo dòng lịch sử tìm hiểu được biết loài cá sấu sông Nin đã từng tồn tại rất nhiều trên vùng quần đảo Comoros (nằm giữa 2 vùng Madagascar và Mozambique), thế nhưng cho đến nay thì không còn dấu vết của chúng nữa.

Trong thời gian gần đây loài cá sấu sông Nin còn xuất hiện ở một số quốc gia khác như Israel, Jordan và Algérie. Sự vắng mặt của loài cá sấu này ở nhiều nơi được giải thích bởi nguyên nhần là do sự mở rộng của hệ khí hậu khô cằn khiến nhiều vùng đất ẩm thấp mất đi. Người ta dường như không còn tìm thấy bóng dáng của loài cá sấu sông Nin ở các vùng đồng bằng châu thổ sông Nin hay dọc theo một số vùng ven bờ biển Địa Trung Hải nữa. Khu vực sinh sống của loài cá sấu Châu Phi này đã bị thu hẹp lại rất nhiều và chỉ còn xuất hiện trong vùng sinh thái nhiệt đới của châu Phi.

Cá sấu sông nin

Cá sấu sông nin

Từ những năm 1940 đến cuối thập niên 1960, cá sấu sông Nin đã bị săn bắn rất nhiều, chủ yếu để lấy da cá sấu có chất lượng cao được ưa thích trên thị trường hàng tiêu dùng bằng da, ngoài ra còn để lấy thịt và các chất làm thuốc chữa bệnh. Quần thể cá sấu sông Nin đã bị suy giảm mạnh và loài này gần như đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Luật pháp các quốc gia trong khu vực cũng như các quy định của thương mại quốc tế đã giúp cho loài này hồi sinh ở nhiều khu vực và loài này trên tổng thể đã thoát khỏi họa diệt chủng.

 

Hiện nay, người ta ước tính còn khoảng từ 250.000 đến 500.000 cá thể còn sống trong tự nhiên. Cá sấu sông Nin cũng phân bổ rộng rãi với các quần thể đã được xác định ở nhiều quốc gia ở miền đông và nam châu Phi, chẳng hạn ở Ethiopia, Kenya và Zambia. Các chương trình chăn nuôi cá sấu để lấy da đã được thực hiện với kết quả tốt trong khu vực này và thậm chí các quốc gia có hạn ngạch cho xuất khẩu cũng dịch chuyển sang việc chăn nuôi cá sấu. Năm 1993, 80.000 cá sấu sông Nin đã được sử dụng để sản xuất da, chủ yếu từ chăn nuôi ở Zimbabwe và Nam Phi.

2. Cá sấu nước mặn 

Cá sấu nước mặn (danh pháp hai phần: Crocodylus porosus), còn gọi là cá sấu cửa sông, cá sấu hoa cà, là loài bò sát lớn nhất, cũng như là loài săn mồi ven bờ lớn nhất còn sống trên thế giới. Con đực trưởng thành có thể đạt tới chiều dài 6,3m và có khả năng lên tới 7m. Tuy nhiên, một con đực trưởng thành hiếm khi đạt tới hoặc vượt quá kích thước 6m nặng 1.000 tới 1.200 kg. Con cái nhỏ hơn nhiều so với con đực, nhìn chung thì không dài quá 3 m.

Cá sấu hoa cà có thể sống ở môi trường biển, nhưng chúng thường sống trong khu vực đầm lầy đước nước mặn và hơi mặn, cửa sông, châu thổ, đầm phá và vùng hạ nguồn của các con sông. Chúng có phân bố rộng nhất trong bất cứ loài cá sấu hiện đại nào.

Cá sấu nước mặn

Cá sấu nước mặn

Cá sấu nước mặn (cá sấu Hoa Cà) là một trong ba loài cá sấu tìm thấy ở Ấn Độ, hai loài còn lại là loài cá sấu đầm lầy nhỏ và phổ biến ở địa phương hơn và loài Cá sấu Ấn Độ mõm hẹp ăn cá.

Cá sấu nước mặn sống ở ven biển phía bắc Úc, trên các đảo thuộc New Guinea, Indonesia và Timor-Leste. Chúng phân bố rộng đến phía tây như Sri Lanka và đông Ấn Độ, dọc theo cửa sông khu vục Đông Nam Á và kéo dài đến miền trung Việt Nam, xung quanh Borneo và vào sâu trong Philippines, đảo Palau, Vanuatu và Solomon.

3. Cá sấu Orinoco

Hiện nay, Orinoco là một trong những loài cá sấu có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất trên thế giới. Hiện tại, chỉ có thể tìm thấy chúng ở một số vườn quốc gia tại Colombia và Venezuela. Với trọng lượng cơ thể khoảng 380kg và dài hơn 4m, cá sấu Orinoco trưởng thành chính là loài cá sấu lớn thứ 3 đang tồn tại trên Trái Đất.

Cá sấu Orinoco

Cá sấu Orinoco

4. Cá sấu Trung Mỹ

Một đến hai nghìn con cá sấu Trung Mỹ sống ở Mexico, Trung và Nam Mỹ, nhưng thiếu dữ liệu về số lượng. Cá sấu Trung Mỹ được coi là một loài dễ bị tổn thương, nhưng đã không được đánh giá từ năm 1996. Dân số hoang dã ước tính từ 500 đến 1.200 ở miền nam Florida.

Cá sấu Trung Mỹ

Cá sấu Trung Mỹ

5. Cá sấu Ấn Độ

Cá sấu Ấn Độ đã từng phát triển mạnh trong tất cả các hệ thống sông chính của tiểu lục địa Ấn Độ, vươn qua các con sông phía bắc của nó từ sông Ấn ở Pakistan qua vùng ngập sông Hằng đến sông Irrawaddy Myanma. Ngày nay, chúng là loài tuyệt chủng ở sông Ấn, Brahmaputra của Bhutan và Bangladesh và sông Irrawaddy. Phạm vi phân bố của họ được giới hạn chỉ có 2% của phạm vi trước đây của chúng:

Cá sấu Ấn Độ

Cá sấu Ấn Độ

Tại Ấn Độ, các quần thể nhỏ là hiện tại và ngày càng tăng trong các con sông của khu bảo tồn quốc gia Chambal, khu động vật hoang dã Katarniaghat, khu bảo tồn sông Son và quần xã sinh vật khu rừng nhiệt đới của khu bảo tồn hẻm núi Gorge Satkosia Mahanadi, Orissa, nơi mà chúng dường như không sinh sản.

Tại Nepal, quần thể nhỏ hiện diện và phục hồi chậm chạp trong các nhánh của sông Hằng, chẳng hạn như hệ thóng Narayani -sông Rapti trong Vườn quốc gia Chitwan và hệ thống Karnali - sông Babai ở vườn quốc gia Bardia.

6. Cá sấu đầm lầy

Cá sấu đầm lầy có thể được tìm thấy tại Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka, Pakistan, Nepal, mũi phía nam của Iran, và có lẽ trong Đông Dương và tại một thời điểm, ngay cả trong phía nam Iraq. Cá sấu đầm lầy là loài cá sấu duy nhất được tìm thấy ở Iran và Pakistan. Cá sấu này là phổ biến nhất và phổ biến rộng rãi nhất trong ba loài cá sấu ở Ấn Độ, số lượng đông đảo lớn hơn nhiều cá sấu cửa sông ở Ấn Độ (và nhiều khả năng trong các nước láng giềng).

Cá sấu đầm lầy

Cá sấu đầm lầy

7. Cá sấu Mã Lai

Cá sấu Mã Lai có nguồn gốc ở hệ thống sáu sông ở Sumatra và Malaysia. Nó cũng được tìm thấy tại Borneo, Java, Việt Nam, Thái Lan (không thấy kể từ thập niên 1970) và có thể ở cả Sulawesi. Các hóa thạch được tìm thấy ở miền nam Trung Quốc chỉ ra rằng ở một thời điểm nào đó loài này từng có mặt tại đây.

Cá sấu Mã Lai

Cá sấu Mã Lai

8. Cá sấu Cuba

Cá sấu Cuba (danh pháp hai phần: Crocodylus rhombifer) là một loài cá sấu nhỏ (trung bình dài 2,4 mét) được tìm thấy ở đầm lầy Zapata và đảo Thanh Niên của Cuba, và nguy cấp cao, mặc dù trước đây dao động ở nơi khác trong Caribbean. Hóa thạch của loài này được tìm thấy trong quần đảo Cayman và Bahamas.

Cá sấu Cuba

Cá sấu Cuba

9. Cá sấu lùn xạ hương (Paleosuchus palpebrosus)

Hay Cá sấu caiman lùn Cuvier là loài cá sấu nhỏ nhất từ miền Bắc và miền Trung Nam Mỹ. Loài này có ở Bolivia, Brasil, Colombia, Ecuador, Guiana thuộc Pháp, Guyana, Paraguay, Peru, Suriname, và Venezuela. Nó sống chủ yếu gà các dòng chảy nhanh, nhưng cũng trong vùng nước thiếu hụt dinh dưỡng.

Cá sấu lùn xạ hương

Cá sấu lùn xạ hương

10. Cá sấu mõm ngắn Mỹ

Danh pháp khoa học: Alligator mississippiensis) là một loài bò sát bản địa duy nhất Đông Nam Hoa Kỳ. Loài này phân bố bên các con sông, đầm lầy và đầm lầy phía nam Hoa Kỳ, từ Bắc Carolina tới miền nam Texas, giáp biên giới Mexico. Việc con người can thiệp đã làm đã biến mất từ nhiều lĩnh vực, và hiện nay chỉ thực sự phong phú trong tiểu bang Florida và đến một mức độ thấp hơn ở cửa sông Mississippi. Nó là một loài được bảo vệ ở Mỹ, và nhiều vườn quốc gia của Florida đã được tạo ra để bảo vệ loài này.

Cá sấu mõm ngắn Mỹ

Cá sấu mõm ngắn Mỹ

11. Cá sấu Dương Tử

Cá sấu Dương Tử sống ở cửa Sông Trường Giang và các sông lân cận bờ biển Trung Quốc thuộc các tỉnh An Huy, Chiết Giang và Giang Tô. Trước đây loài này phân bổ ở nhiều khu vực khác thuộc Trung Quốc và Hàn Quốc, trong những năm 1978 tới 1998, phạm vi phân bố này đã thu hẹp xuống hơn 90 phần trăm.

Cá sấu Dương Tử

Cá sấu Dương Tử

12. Cá sấu mõm dài

Họ Cá sấu Ấn Độ, họ Cá sấu sông Hằng hay họ Cá sấu mõm dài (danh pháp khoa học: Gavialidae) là các tên gọi trong tiếng Việt để chỉ một họ bò sát trong bộ Cá sấu (Crocodilia). Họ Gavialidae hiện chỉ chứa 2 loài còn sinh tồn đã biết là cá sấu Ấn Độ hay cá sấu sông Hằng (Gavialis gangeticus) và cá sấu Ấn Độ giả hay cá sấu Mã Lai (Tomistoma schlegelii), nằm trong hai chi độc loài của chính chúng. Chúng là loài bản địa của Ấn Độ và bán đảo Mã Lai.

Cá sấu mõm dài

Cá sấu mõm dài

Theo: Casaukieuhung.com

Gọi: 0984373664